Thứ Tư, 7 tháng 10, 2015

Tầm quan trọng kỹ năng mềm

Con cá, cần câu và …
“Trên đường về nhà, 3 thợ câu gặp một người ăn mày. Thấy ông ta rất đáng thương, người thứ nhất bèn mang cả xô cá mình câu được cho ông ta. Người thứ 2 nói: “Cho ông ta xô cá thì no được mấy ngày, phải cho ông ta cái cần câu để câu cá, thế mới sống lâu dài được chứ”. Nói xong, anh ta liền đưa cho người ăn mày cần câu của mình. Người thứ 3 nói: “Cho ông ta cần câu, nhưng ông ta không có kỹ năng câu thì cũng chẳng có cá mà ăn”.
Được cho cá, bạn chỉ có thể sống vài ngày, khi có kỹ năng bạn có thể  sống được cả đời”.
“Học, học nữa, học mãi”. Tại sao dân Việt được mệnh danh là hiếu học mà chưa giàu lên được? Rõ ràng, học chăm chưa đủ mà quan trọng là biết học cái gì và học như thế nào?
Năm nào nước ta cũng có nhiều người đoạt giải vàng, bạc quốc tế khiến nhiều nước trong khu vực phải ghen tị. Nhưng mỗi khi nói về năng lực của lao động Việt Nam thì chắc chắn chúng ta dừng lại ở một vị trí đáng buồn. Tại sao lại thế? Rõ ràng là có một khoảng hẫng hụt lớn giữa những lý thuyết được dạy bài bản và nhu cầu xã hội, thực tế sản xuất, kinh doanh.
Trong báo cáo “Học tập: Một tài sản tiềm ẩn”, UNESCO đã công bố bốn trụ cột của giáo dục: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để  tồn tại”. Nhà trường chúng ta hiện đang nặng về học để biết, nghĩa là chỉ đạt được một trong bốn trụ cột của giáo dục do UNESCO đưa ra.
Ngân hàng Thế giới gọi thế kỷ 21 là kỷ nguyên của kinh tế dựa vào kỹ năng - Skills Based Economy(http://www.librarything.com/work/5395375).
Năng lực của  con người được đánh giá trên cả 3 khía cạnh: kiến thức, kỹ năng và thái độ. Trong đó kiến thức chiếm 4%, kỹ năng chiếm 26%, thái độ chiếm 70%.
Chúng ta bước vào thế kỷ 21 đã 15 năm, thế mà chương trình đào tạo và việc đánh giá năng lực của học sinh, sinh viên vẫn dựa chủ yếu vào kiến thức. Peter M. Senge nói “Vũ khí cạnh tranh mạnh nhất là học nhanh hơn đối thủ”. Rõ ràng, muốn tăng cường năng lực cạnh tranh chúng ta không những phải học nhanh mà còn phải học đúng.
Nền giáo dục nước ta lâu nay chỉ tập trung vào  “nhồi nhét” kiến thức, yếu tố chỉ chiếm 4% năng lực của con người. Đó cũng là lí do tại sao có hàng trăm nghìn sinh viên ra trường thất nghiệp và làm trái ngành. Đó là một nỗi ám ảnh nặng nề đối với thế hệ trẻ và tất nhiên là đối với tương lai dân tộc. “Hơn 162.000 lao động đại học đang thất nghiệp:Theo Bản tin, Quý 1/2014, cả nước có hơn 1 triệu người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp, tăng 145,8 nghìn người so với Q4/2013. Tỷ lệ thất nghiệp chung là 2,21%; tỷ lệ thất nghiệp thành thị là 3,72%, cao gấp 2,4 lần nông thôn (1,53%). Đáng chú ý, nhóm lao động trình độ cao tiếp tục khó khăn khi tìm việc làm, có 162,4 nghìn người có trình độ đại học trở lên bị thất nghiệp; 79,1 nghìn người có trình độ cao đẳng bị thất nghiệp...(http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/184176/hon-162-000-lao-dong-dai-hoc-dang-that-nghiep.html).
Giáo dục hàn lâm là khởi điểm của giáo dục. Phương pháp chính được áp dụng  là phấn trắng, bảng đen và đọc - chép. Học sinh thụ động ngồi đọc, chép và học thuộc. Các môn học chủ yếu mang tính hàn lâm: toán, lý, hóa, văn, sử, địa. Nền giáo dục hàn lâm xem trọng việc đánh giá chất lượng đào tạo qua kiểm tra, thi  viết để lấy bằng. Thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20 chỉ cần có bằng cấp là có thể làm quan. Thật sai lầm là ở thế kỷ 21- thời đại @, kiểu học này vẫn là chủ đạo ở nước ta.
Thế kỷ 21 - thời đại công nghệ số, chỉ cần  biết đặt câu hỏi, “Google” luôn trường trực 24/24 trong chiếc điện thoại di động bỏ túi nhanh chóng cung cấp cả triệu đáp án cho mỗi câu hỏi. Chỉ cần vài click chuột hay vài cái vuốt màn hình ta có mọi kiến thức cần thiết một cách chi tiết. Không những thế thông tin còn được minh họa bằng âm thanh và hình ảnh sinh động, luôn được cập nhật từng giây.
Ngày xưa, nhà trường là nơi duy nhất để ta có thể tiếp cận với kiến thức. Thế giới ngày càng phẳng hơn, nhờ internet mọi người đều có thể tiếp cận được thông tin, dữ liệu một cách bình đẳng, mọi lúc, mọi nơi. Kiến thức ngày càng nhiều và từ việc có kiến thức đến thực hiện một công việc để có kết quả cụ thể không phải chỉ có kiến thức là được. Từ biết đến hiểu, đến làm việc chuyên nghiệp với năng suất cao là một khoảng cách rất lớn.
“Kỹ năng mềm phải thật cứng – Kỹ năng cứng phải thật mềm”
Kỹ năng cứng chỉ dùng trong công việc, tại nơi làm việc, trong thời gian làm việc. Còn kỹ năng mềm thì được dùng mọi lúc, mọi nơi, suốt đời, cho mọi người, cho chính mình.
 Đơn giản, kỹ năng cứng như việc đi xe máy, ta chỉ dùng rất ít. Còn kỹ năng giao tiếp lúc nào ta cũng phải dùng, ngay khi ngồi một mình ta cũng phải biết giao tiếp với chính mình.
Thế giới thay đổi ngày càng nhanh, kỹ năng cứng ngày càng mềm hơn. Sau 4 năm đại học, tất cả kiến thức và kỹ năng cứng, kỹ năng chuyên môn của ta đã trở nên lỗi thời, (đó là chưa nói đến việc chậm trễ thay đổi giáo trình học và  thiếu cập nhật thông tin của thầy giáo). Trong thời buổi phát triển đến chóng mặt của khoa học công nghệ, có rất nhiều ngành nghề mất đi nhanh chóng và được thay thế bằng các ngành khác. Ngay cả kỹ năng cứng – kỹ năng chuyên môn của một ngành nghề cũng cần được cải tiến, nâng cấp một cách liên tục.

Ông cha ta nói “Tiên học lễ hậu học văn” cũng là nhấn mạnh đến kỹ năng mềm. Bởi vì lễ nghĩa, cách ứng xử chính là kỹ năng mềm.
Ở Việt Nam, các kỹ năng mềm chưa được chú trọng trong hệ thống giáo dục cũng như trong cuộc sống. Nền giáo dục của chúng ta đang dựa trên một giả định “người ta biết thì người ta sẽ làm được”. Và vì vậy, ta cứ cố dạy cho học sinh, sinh viên thật nhiều kiến thức hòng làm được việc khi ra trường. Nhưng thực tế đâu có vậy, từ “biết” đến “hiểu” là một khoảng cách rất xa, và từ “hiểu” đến “làm việc chuyên nghiệp” với năng suất cao là một khoảng cách còn xa nữa. Điều này dẫn đến một thực trạng là sinh viên khi ra trường  biết nhiều kiến thức nhưng lại không có khả năng làm việc trong môi trườngcụ thể.
Các kỹ năng có thể là kỹ năng nghề nghiệp (các kỹ năng kỹ thuật cụ thể như hàn, tiện, đánh máy, lái xe, lãnh đạo, quản lý, giám sát…) và kỹ năng mềm (các kỹ năng giao tiếp, ứng xử, tư duy, giải quyết xung đột, hợp tác, chia sẻ…). Mỗi người học các nghề khác nhau thì có các kỹ năng nghề nghiệp khác nhau nhưng các kỹ năng mềm thiết yếu, cơ bản thì bất cứ ai làm nghề gì cũng cần phải có.
Như vậy, ngoài những kỹ năng và kiến thức chuyên môn, mỗi cá nhân cần phải được trang bị thêm các kỹ năng mềm không những để đảm bảo có được việc làm mà còn giúp chúng ta thành công, hạnh phúc trong sự nghiệp cá  nhân và đóng góp vào sự phát triển của đất nước.
Chúng ta đã gia nhập WTO, đang chuẩn bị gia nhập TPP và AEC. Lâu nay chúng ta chỉ nghĩ đến xuất khẩu lao động, nhưng một thách thức mới đối với người lao động Việt Nam là trong thời kỳ hội nhập, người nước ngoài đang đến tranh chỗ làm việc của ta. Chúng ta có thể bị thua ngay trên sân nhà.
Học hỏi kinh nghiệm từ các nước công nghiệp tiên tiến, nhà nước cần phải xây dựng một  chương trình quốc gia về kỹ năng mềm, thành lập một cơ quan chuyên trách xây dựng hệ thống kỹ năng, đào tạo và giám sát chất lượng năng lực của lực lượng lao động. Chúng ta đã bước vào kỷ nguyên kinh tế tri thức. Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức thì nguồn vốn con người là quan trọng nhất

Phản ứng:

0 nhận xét:

Đăng nhận xét